Bài Học 1 . . . . . . . . . . 24 Tháng 6 - 30 Tháng 6 [Bài Học Khác][HOME]

 

SỰ LÀM CHỨNG: MỘT GIÁO LÝ CĂN BẢN

 

CÂU GỐC: “Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Ma-thi-ơ 28:19-20).

 

CHIỀU SA-BÁT

 

“NGƯỜI THỢ GIẦY CƠ ĐỐC PHỤC LÂM” đọc bảng hiệu bên vệ đường trong thành phố Agusan del Sur, thuộc Phi Luật Tân. Tại phi trường quốc tế Dallas, một nhà kinh doanh bị trễ chuyến bay hơn một tiếng đồng hồ đã phân phát cho những hành khách chờ đợi truyền đạo đơn và thiệp in tên và địa chỉ của mình. Hai người này khác biệt, nhưng họ yêu mến Đức Chúa Giê-su và đang làm chứng về Ngài. “Đức Chúa Trời ban cho một nơi đặc biệt trên đất là nơi mỗi chúng ta có thể làm việc cho Ngài”—Phỏng trích Christian Service, tr. 99. Trong bài học này, hãy cầu xin Đức Chúa Trời giúp bạn biết nơi đặc biệt mà Ngài đã sửa soạn cho bạn.

 

Thứ Nhất . . . . . . . . . . 25 Tháng 6

 

CHỨNG NHÂN LÀ GÌ? (Công vụ 9:1-22; 22: 15, 16, 20).

 

Lời truyền dạy nào truyền cho Phao-lô trong ngày ông chịu phép báp-têm? Công vụ 22:15, 16. Công vụ 9:1-22, hãy nêu ra ba điều chúng ta học được trong sự làm chứng.

 

ĐỊNH NGHĨA: Chứng nhân là một người nói cho bạn biết một vài điều mà người ấy có kinh nghiệm về những điều đó. “Chúng tôi lấy điều đã thấy đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả, chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Giê-su Cơ Đốc.”

 

Những lời nào mà Phao-lô đã dùng để mô tả về Ê-tiên? Tại sao lời nói này lại quan trọng? Công vụ 22:20.

 

Từ ngữ Hy Lạp dùng cho “chứng nhân” là Martus. Martus lấy từ tiếng Anh là Martyr (người tử đạo). “Martyr là một người chấp nhận, bày tỏ, và sống chết vì lẽ thật. Sự bắt bớ không tạo nên người tử đạo. Sự bắt bớ chỉ bày tỏ cho chúng ta biết họ là ai. Những ai không phải là tử đạo sẽ không bao giờ chết cho lẽ thật. Người chết vì đạo bởi vì họ là những tử đạo” – Phỏng trích từ Leroy E. Froom, The Coming of the Comforter (Washington, DC: Review and Herald, 1956), tr. 106, 107.

 

Điều gì sẽ xảy ra nếu giáo hữu hy sinh thời giờ, tiền bạc, đời sống để làm chứng về Đức Chúa Giê-su? Chúng ta có nên đợi khi cơn mưa cuối mùa đổ xuống rồi mới làm chứng không? Tại sao có, tại sao không? Bạn có thể làm chứng cho Đức Chúa Giê-su thế nào ngay bây giờ?

 

Thứ Hai . . . . . . . . . . 26 Tháng 6

 

MỤC TIÊU CỦA SỰ LÀM CHỨNG (Ma-thi-ơ 28:18-20).

 

Những lời phán đặc biệt mà Đức Chúa Giê-su ra lệnh là gì? Ma-thi-ơ 28:19, 20.

 

Môn đồ là gì?

 

ĐỊNH NGHĨA: Từ ngữ môn đồ có nghĩa “những môn đệ theo thầy.” Danh từ này chỉ “Cơ Đốc nhân.” Tình môn đệ có nghĩa gắn bó trọn vẹn vào người nào đó. Môn đồ là những người cam kết Đức Chúa Giê-su là Chúa của đời mình. Trong sách Công vụ, môn đồ có nghĩa người nào đó xưng nhận Đức Chúa Giê-su là Chúa và Cứu Chúa.

 

Các môn đồ được sanh lại bởi Đức Thánh Linh. Họ có những đặc tánh mà người thế gian thấy khác vì họ là những người mới trong Đức Chúa Giê-su. Họ không trọn vẹn, nhưng họ là con cái trong gia đình Đức Chúa Trời. Thí dụ, Phi-e-rơ là một môn đồ. Người không trọn vẹn sau lễ Ngũ tuần. Nhưng người đã được ủy thác cho Đức Chúa Giê-su, và mong muốn vâng phục Ngài.

 

Là tín đồ mà không là môn đồ có được không? Hãy giải thích. Bạn tuân theo mệnh lệnh quan trọng của Đức Chúa Giê-su thế nào?

 

Thứ Ba . . . . . . . . . . 27 Tháng 6

 

NGUYÊN NHÂN ĐỂ CÓ SỰ LÀM CHỨNG (Công vụ 8:26-31; II Phi-e-rơ 3:9; II Cô-rinh-tô 5:14).

 

Hãy cho biết nguyên nhân về sự làm chứng trong những câu Kinh Thánh sau đây: Công vụ 8:26-31; II Phi-e-rơ 3:9; II Cô-rinh-tô 5:14.

 

Hãy cho biết ít nhất bốn nhiệm vụ của Phao-lô khi ông làm chứng? Công vụ 26:15-18.

 

Kinh nghiệm của Phi-líp với người Ê-thi-ô-bi dạy dỗ chúng ta rằng chúng ta phải quan tâm đến những lo âu và nhu cầu của người mà chúng ta làm chứng. Hãy đặt những câu hỏi và lắng nghe họ trả lời. Chúng ta dựa vào sự lưu ý của họ mà bắt đầu chia xẻ tình yêu của Đức Chúa Giê-su. Khi chúng ta làm chứng điều này, họ sẽ học được rằng chính Đức Chúa Giê-su là đường đi, lẽ thật và sự sáng.

 

Sự làm chứng cũng còn ban cho chúng ta quyền năng về tâm linh: “Sự làm chứng ban cho chúng ta sức lực chống lại điều ác” – Phỏng trích The Acts of the Apostles, tr. 105. Hãy nêu ra những nguyên nhân khác cho sự làm chứng.

 

Thứ Tư . . . . . . . . . . 28 Tháng 6

 

BA CÁCH CĂN BẢN ĐỂ LÀM CHỨNG (Đa-ni-ên 1; Ma-thi-ơ 5-7; Công vụ 18:4).

 

Phi-líp phục vụ hội thánh tại nơi nào? Công vụ 21:8.

 

ĐỊNH NGHĨA: Rao giảng Tin lành là trình bày về Đức Chúa Giê-su, Ngài là ai, Ngài đã làm gì và đã dạy dỗ gì. Rao giảng Tin lành là nhờ quyền phép của Đức Thánh Linh đặng bày tỏ những sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Đức Thánh Linh khuyến khích dân sự chấp nhận Đức Chúa Giê-su là Cứu Chúa và phụng sự Ngài trong hội thánh. Người truyền bá tin lành là người chia xẻ những điều tốt về Tin lành.

 

Ba cách sau đây để làm chứng:

1.         Làm chứng thực tiển. Điều này ảnh hưởng đến đời sống Cơ Đốc nhân. Công việc y tế hoặc canh nông trong lãnh vực truyền giáo là một phần của sự làm chứng thực tiển. Sự làm chứng thực tiển đáp ứng nhu cầu của dân chúng. Khi nhu cầu của họ được đáp ứng, họ sẽ mở lòng đối với tin lành.

2.         Làm chứng bằng rao truyền. Tức là giảng giải về Kinh Thánh. Những mục sư giảng dạy vào sáng Sa-bát là làm chứng bằng cách này.

3.         Làm chứng bằng thuyết phục. Làm chứng bằng sự thuyết phục là nhấn mạnh vào giáo lý và thuyết phục người ta đi đến quyết định theo Đức Chúa Giê-su. Mục sư mời hội chúng đáp ứng sự kêu gọi hoặc tiến lên tòa giảng qua quyền phép của Đức Thánh Linh là làm chứng bằng cách thuyết phục.

 

Phương pháp làm chứng nào được mô tả trong những câu Kinh Thánh dưới đây? Công vụ 10:4; Đa-ni-ên 1; Ma-thi-ơ 5-7.

 

Hãy xem lại định nghĩa về sự rao giảng tin lành ở trên. Hãy giải thích ba cách này thích hợp với định nghĩa này thế nào. Tại sao chúng ta cần cả ba cách?

 

Thư Năm . . . . . . . . . . 29 Tháng 6

 

SỰ LÀM CHỨNG LÀ MỘT PHẦN CỦA SỰ VÂNG PHỤC (Công vụ 5:17-42).

 

Nhóm người Sanhedrin hay là toàn công luận là một hội đồng quản trị phần tư pháp, chính trị và cả tôn giáo của dân chúng thời sách Công vụ. Hội đồng này có 70 người. Sanhedrin là hệ thống chính quyền tối cao của người Hê-bơ-rơ. Thầy tế lễ thượng phẩm là chủ tịch của Sanhedrin. Các sứ đồ đã bị mang ra trước tòa công luận hay hội đồng quản trị này vì họ bị tố cáo là họ không theo mệnh lệnh của chính quyền mà cứ giảng về Đức Chúa Giê-su.

 

Môn đồ đã vâng theo mệnh lệnh của một quyền cao hơn nào? Công vụ 5:29.

 

Nhiệm vụ của hội thánh là làm chứng và rao giảng tin lành. Các sứ đồ đã dám hy sinh tính mạng mình để làm các công tác ấy dầu là họ biết họ có thể bị tù đày, đánh đập, tra tấn.

 

Các môn đồ đã đáp ứng chỉ thị của tòa công luận thế nào? Công vụ 5:40-42.

 

Mỗi người chống trả khi bị chống đối cách khác nhau. Một số thích bình yên bởi vì họ dể sợ hãi và chịu im tiếng. Có những người khác muốn cho cả thế giới biết rằng họ đã bị đối xử bất công như thế nào. Nhưng một ít người không sợ sự đau đớn vì cớ Đức Chúa Giê-su. Chính Đức Chúa Giê-su phán rằng những người này “được phước” (Ma-thi-ơ 5:10-12). Khả năng của hội thánh chống lại những kẻ thù đã khích động dân sự. Và “số môn đồ càng thêm lên” (Công vụ 6:1).

 

Nếu có những luật lệ trong xứ sở hoặc thành phố của bạn ở cho sự làm chứng là có tội, bạn nghĩ bạn có thà để bị phạm pháp hay là bạn sẽ tránh không để mình phạm luật pháp? Trong trường hợp nào thì Cơ Đốc nhân phải thà phạm điều luật cấm giảng đạo?

 

Thứ Sáu . . . . . . . . . . 30 Tháng 6

 

NGHIÊN CỨU BỔ TÚC: Những hoạt động nào trong việc làm của Đức Chúa Giê-su được coi là sự làm chứng, tại sao? Trong bài học ngày thứ Tư thảo luận về ba cách làm chứng, sự làm chứng của Đức Chúa Giê-su có theo những cách này không? Từ việc làm của Đức Chúa Giê-su chúng ta có thể học được gì về sự làm chứng?

“Hội thánh của Đức Chúa Giê-su được thành lập trên đất cho mục đích truyền đạo. Chúa muốn nhìn thấy toàn thể hội thánh tìm phương cách giúp đỡ mọi người được nghe về lẽ thật”—Phỏng trích Testimonies for the Church, bộ 6, tr. 29.

 

ĐỀ TÀI THẢO LUẬN:

 

1.         Sự làm chứng về tin lành và tình môn đệ gắn bó với nhau một cách chặt chẽ trong Tân Ước. Nhưng có điều gì khác biệt giữa hai điều đó? Chúng ta có thể kết hợp bằng cách nào?

2.         Công vụ 9:1-18. Phần nào trong câu chuyện về A-na-nia dạy chúng ta trong sự làm chứng?

 

TÓM LƯỢC: Căn cứ bài học này bạn hãy viết bằng lời của bạn về những tư tưởng sau: (1) Một chứng nhân là gì? (2) Mục đích của sự làm chứng là gì? (3) Một vài nguyên nhân về sự làm chứng thế nào? (4) Liệt kê và giải thích ba phương cách căn bản để làm chứng. (5) Tại sao sự làm chứng là một phần trong sự vâng phục Đức Chúa Trời?